CURCUMIN: VÀNG CỦA NGƯỜI ẤN ĐỘ

Tóm tắt
Củ nghệ, là thân rễ của cây Nghệ, Curcuma longa, là một loại gia vị màu vàng được sử dụng bởi người Ấn Độ, để chăm sóc sức khỏe, bảo quản thức ăn và phẩm nhuộm. Curcumin là chất làm cho củ nghệ có màu vàng, được phân lập lần đầu tiên cách đây nhiều thế kỷ, và cấu trúc được xác định vào năm 1910 là diferuloylmethan. Giai đoạn Y học Ấn Độ cổ đại (1900 BC), có vô số các bài thuốc chữa bệnh từ nghệ được chỉ định cho nhiều loại bệnh và tình trạng sức khỏe, bao gồm bệnh da liễu, bệnh phổi, bệnh tiêu hóa, đau nhức, vết thương, bong gân và rối loạn về chức năng gan. Nhiều nghiên cứu sâu hơn trong nửa thế kỷ qua đã chứng minh được các tác dụng này của nghệ là nhờ curcumin. Curcumin thể hiện tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn, kháng virus, kháng nấm, và chống ung thư.Vì vậy, curcumin có tiềm năng chống lại các bệnh ác tính như tiểu đường, dị ứng, viêm khớp, bệnh Alzheimer’s và nhiều bệnh mãn tính khác. Những tác dụng này là nhờ vào tác dụng của curcumin lên yếu tố phiên mã, yếu tố tăng trưởng, cytokin gây viêm, protein kinase (là một loại enzyme có vai trò chuyển hóa các gốc phosphate từ các phân tử giàu năng lượng (như ATP) sang một phân tử đích cụ thể), và những enzym khác. Curcumin thể hiện tác dụng tương tự như các chất được phát hiện gần đây có khả năng cảm ứng yếu tố hoại tử khối u, như HUMIRA, REMICARE, ENBREL; ức chế yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, như AVASTIN; ức chế receptor của yếu tố tăng trưởng biểu bì, như ERBITUX, ERLOTINIB, GEFTINIB; ức chế yếu tố HER2, như HERCEPTIN. Các xu hướng nghiên cứu khoa học gần đây tập trung vào các liệu pháp tác dụng đa đích nhiều hơn so với các liệu pháp chỉ có một đích tác dụng, curcumin được đánh giá là một gia vị tuyệt vời của cuộc sống.

1. GIỚI THIỆU
Vấn đề là liệu các thuốc được phát minh ngày nay có an toàn, hiệu quả, kinh tế hơn so với các thuốc generic hoặc các thuốc hàng thế kỷ nay không được chấp nhận bởi y học hiện đại hay không. Như vậy, việc tìm hiểu và làm sống lại các thuốc truyền thống này để cải thiện chất lượng cuộc sống con người là hoàn toàn hợp lý. Cucumin là một trong những thuốc như vậy. Trở lại lịch sử của curcumin cách đây 5000 năm, thời kỳ hoàng kim của Ayurveda – Nghệ thuật giúp sống thọ. Củ nghệ, là thân rễ của cây Nghệ, Curcuma longa được sử dụng bởi người Ấn Độ làm gia vị thức ăn và chữa nhiều bệnh trong nhiều thế kỷ và không có tác dụng phụ.

Nghệ là một gia vị có màu vàng được sử dụng bởi người Ấn Độ. Còn ở Châu Âu, người ta gọi cây nghệ là cây nghệ tây Ấn Độ (Indian Saffron) vì màu sắc và mùi vị của chúng. Ngày nay, Ấn Độ là nơi xuất khẩu nghệ chính. Nghệ có khả năng bảo quản thức ăn nhờ cơ chế chống oxy hóa, tạo màu sắc và mùi vị hấp dẫn cho thức ăn. Tuy nhiên, tác dụng chữa bệnh của nghệ vẫn chưa được công nhận và đánh giá cao. Nghệ từng được xem là một thuốc chữa bệnh vàng da, chất ức chế cảm giác thèm ăn và trợ tiêu hóa. Trong thuốc của người Ấn Độ và người Trung Hoa, nghệ được dùng như một tác nhân kháng viêm để chữa đầy bụng, đau bụng, đau răng, đau tức vùng ngực, và rối loạn kinh nguyệt. Gia vị này cũng được dùng để chữa bệnh dạ dày và rối bệnh gan, làm lành vết thương và làm sáng vết sẹo, và cũng được dùng như một loại mỹ phẩm.

Nghệ được nhắc đến trong tác phẩm của Marco Polo về chuyến đi của ông ấy vào năm 1280 đến Trung Hoa và Ấn Độ và đó chính là lần đầu tiên Nghệ được biết đến bởi người Châu Âu, nhờ vào một thương nhân người Ả Rập. Mặc dù vậy, Vasco de Gama (một thủy thủ người Bồ Đào Nha), sau chuyến thăm của ông ấy vào thế kỷ XV đến Ấn Độ, mới thật sự giới thiệu các loại gia vị với Phương Tây, đó là giai đoạn cai trị của người Anh ở Ấn Độ. Nghệ được phối hợp với những loại gia vị khác và được người Phương Tây gọi là bột cà ri.

Vậy thành phần gì giúp của nghệ có tiềm năng chữa bệnh, hợp chất này thực hiện công dụng của nó theo cơ chế nào, gắn vào thụ thể gì và hiệu quả trong chữa bệnh nào.v.v. tất cả những câu hỏi này sẽ được giải đáp trong quyển sách này.

2. THÀNH PHẦN CỦA NGHỆ
Cây nghệ chứa nhiều hợp chất tự nhiên bao gồm curcumin, demetoxycurcumin, bisdemetoxycurcumin, zingiberen, curcumenol, curcumol, eugenol, tetrahydrocurcumin, trietylcurcumin, turmerin, turmeron và turmeronol. Ba chất curcumin, demetoxycurcumin, bisdemetoxycurcumin đã được phân lập từ Curcuma mangga, Curcuma zedoaria, Costus speciosus, Curcuma xanthorrhiza, Curcuma aromatica, Curcuma phaeocaulis, Etlingera elatior, and Zingiber cassumunar. Curcumin là hợp chất tự nhiên làm cho củ nghệ có màu vàng và cũng là chất giúp củ nghệ có nhiều tác dụng trị liệu, chiếm khoảng 2 – 5 % trong củ nghệ. Curcumin lần đầu tiên được phân lập từ củ nghệ vào năm 1815, và được xác định cấu trúc vào năm 1910 là diferuloylmethan. Hầu hết các dạng bào chế hiện nay của curcumin chứa 77 % diferuloylmethan, 18 % demetoxycurcumin và 5 % bisdemetoxycurcumin. Curcumin là chất thân dầu trong tự nhiên và thường tan trong dimetylsulfoxid, aceton, ethanol và các loại dầu. Bước sóng hấp thu cực đại là 420 nm. Trong môi trường acid, nghệ (curcumin) chuyển từ vàng sang đỏ đậm, dạng này thường được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo.


















3. CÁC CHẤT ĐỒNG ĐẲNG CỦA CURCUMIN
Như đã đề cập trước đó, nghệ chứa ba đồng đẳng khác nhau của curcumin, là diferuloylmethan hay còn gọi là curcumin, demetoxycurcumin, bisdemetoxycurcumin, tuy nhiên ba hợp chất này không thể hiện rõ hoạt tính tương tự nhau. Mặc dù vậy, trong hầu hết các phương pháp trị liệu, curcumin thể hiên hoạt tính mạnh nhất, trong một số trường hợp khác, bisdemetoxycurcumin thể hiện hoạt tính mạnh hơn. Cũng có một số ý kiến cho rằng hỗn hợp của hai chất này thể hiện hoạt tính mạnh hơn khi sử dụng riêng lẽ.

Khi dùng đường uống, curcumin được chuyển hóa thành curcumin glucuronid và curcumin sulfonat. Tuy nhiên, khi dùng đường tiêm hoặc đường phúc mạc, curcumin được chuyển hóa thành tetrahydrocurcumin, hexahydrocurcumin và hexahydrocurcuminol. Tetrahydrocurcumin thể hiện hoạt tính trong một số hệ thống trị liệu nhưng đôi khi không có tác dụng. Những chất chuyển hóa khác của curcumin không thể hiện hoạt tính sinh học.

4. SỬ DỤNG CURCUMIN
Sử dụng curcumin cho mục đích chăm sóc sức khỏe thì không có gì mới. Nghệ được ghi chép trong sách vở của người Ấn Độ và người Trung Hoa như một vị thuốc cổ truyền,. Các công dụng bao gồm sát trùng, giảm đau, kháng viêm, chống oxy hóa, chống sốt rét, trị côn trùng cắn, và nhiều tác dụng khác liên quan đến nghệ. Công dụng làm lành vết thương được ứng dụng sử dụng phổ biến nhất. Công dụng này nổi tiếng ở Ấn Độ. Các nhiên cứu gần đây đã cung cấp nhiều bằng chứng quan trọng và giải thích cơ chế của việc thúc đẩy làm lành vết thương.




















Ngày nay người ta nhận biết rõ rằng các bệnh mãn tính là do rối loạn điều hòa phản ứng viêm, nghệ được sử dụng như một tác nhân kháng viêm truyền thống. Các bằng chứng khoa học gần đây đã thực sự chứng minh rằng nghệ nói chung, curcumin nói riêng, thể hiện khả năng kháng viêm trong nhiều bài thuốc chữa bệnh. Vì vậy, nghệ có khả năng chữa nhiều bệnh là điều chắc chắn. Bởi vì curcumin thể hiện tính chống oxy hóa mạnh, khả năng đặc biệt này có phải là cơ chế tác dụng kháng viêm của curcumin hay không vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Do các chống oxy hóa đặc trưng thì không thể hiện hoạt tính kháng viêm, hoạt tính kháng viêm của nghệ không hẳn là do tính chống oxy hóa của những chất này.

Curcumin
Cyclocurcumin
Demethoxycurcumin
Tetrahydrocurcumin
Bisdemethoxycurcumin
Hexahydrocurcumin
α - Turmeron
Hexahydrocurcuminol
β - Turmeron
Curcumin sulfat
Curcumin – glucuronid



5. ĐÍCH TÁC ĐỘNG PHÂN TỬ CỦA CURCUMIN
Hầu hết các đích tác động phân tử của sinh học hiện đại được khám phá trong ba thập kỷ gần đây. Tác dụng của curcumin lên các phân tử đích này đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy curcumin có thể điều chỉnh vài yếu tố phiên mã, các cytokin, các yếu tố tăng trưởng, kinase, và những enzym khác. Mặc dù hầu hết các chứng bệnh là do sự rối loạn chức năng điều hòa phản ứng viêm, việc tìm một tác nhân chống oxy hóa an toàn và hiệu quả là một thách thức lớn với y học hiện đại. Các steroid có thể là nhóm kháng viêm nổi tiếng nhất. Tuy nhiên, thuốc này liên quan đến vô số các tác dụng phụ. Bên cạnh các steroid, còn có nhiều thuốc kháng viêm nhóm non – steroid (NSAIDs) đã được khám phá trong vòng một thế kỷ qua, bao gồm các salicylate, ibuprofen, sulindac, phenylbutazone, naproxen, diclofenac, indomethacin, và các coxib. Nghiên cứu trong nhiều năm cho thấy hầu hết các NSAIDs cũng gây ra nhiều tác dụng phụ. Có lẽ ví dụ điển hình nhất là tác dụng phụ lên hệ tim mạch được xác định gần đây bởi các coxib. Việc uống các thuốc kháng viêm này thích hợp cho các bệnh mãn tính, tuy nhiên, chúng không thể được sử dụng như một tác nhân ngừa bệnh khi điều kiện sức khỏe bình thường, bởi vì việc này đòi hỏi thời gian sử dụng lâu dài. Vì vậy, việc tìm ra một thuốc kháng viêm an toàn và hiệu quả là rất cần thiết.

Có nhiều bằng chứng cho thấy curcumin là một chất kháng viêm mạnh. Đầu tiên, curcumin ức chế sự hoạt hóa của yếu tố phiên mã NF–ĸB, chất này điều hòa biểu hiện của sản phẩm gen tiền viêm. Thứ hai, curcumin làm giảm biểu hiện của COX-2, một enzym liên quan đến hầu hết các phản ứng viêm. Thứ ba, curcumin ức chế sự biểu hiện của các gen tiền viêm khác như 5-LOX. Ngoài ra, curcumin đã được chứng minh là gắn vào và ức chế vùng hoạt động của 5-LOX. Thứ tư, curcumin làm giảm biểu hiện của nhiều phân tử liên quan phản ứng viêm gắn lên bề mặt tế bào. Thư năm, curcumin làm giảm biểu hiện của nhiều cytokin gây viêm, bao gồm TNF, IL-1, IL-6, IL-8, và các chemokin (là những cytokin được sản xuất trong những giai đoạn sớm nhất của nhiễm trùng). Thứ sáu, curcumin ức chế hoạt tính của INF, một trong những cytokin tiền viêm. Thứ bảy, curcumin là một chất chống oxy hóa mạnh, góp phần vào hoạt tính kháng viêm của nó. Tất cả những bằng chứng gần đây đã công nhận hoạt tính kháng viêm của curcumin, đã được biết đến trong nhiều thế kỷ qua. Sự an toàn về mặt dược học kết hợp với hoạt tính kháng viêm giúp cho curcumin trở thành một chất lý tưởng để khám phá khả năng ngăn ngừa và chữa bệnh.

Trong khi các chất tiền oxy hóa được xem là nguyên nhân của nhiều bệnh thì chất chống oxy hóa nói chung góp phần làm chậm hoặc ngăn chặn bệnh. Tuy nhiên, lý luận này không đúng trong mọi trường hợp bởi vì hầu hết các cytokin thể hiện tác dụng qua cơ chế trung gian liên quan tác nhân tiền oxy hóa. Các gốc oxy phản ứng (Reactive oxygen species – ROS) đóng vai trò quan trọng trong cơ chế trung gian độc tế bào (Cell – mediated cytotoxicity – CMC) trong hệ miễn dịch của cơ thể. Có nhiều báo cáo đề cập rằng curcumin có thể thực hiện vai trò trung gian của nhân tiền oxy hóa và tác nhân oxy hóa. Thứ nhất, curcumin có thể cảm ứng sự biểu hiện của các gốc oxy phản ứng, chất đóng vai trò quan trọng trong tác dụng chống tăng sinh tế bào của phân tử này. Thứ hai, curcumin gắn vào enzym thioredoxin reductase (Enzym khử thioredoxin) và chuyển enzym này thành NADPH oxidase, dẫn đến sự tạo ra các gốc oxy phản ứng. Bởi vì enzym khử thioredoxin biểu hiện quá nhiều trong tế bào khối u, curcumin có thể diệt các tế bào khối u thông qua cơ chế này. Thứ ba, curcumin ngăn chặn quá trình peroxy hóa của lipid. Thứ tư, curcumin gia tăng sự biểu hiện của glutathion nội bào. Thứ năm, curcumin cũng là một chất chống oxy hóa quan trọng nhờ khả năng gắn kết với sắt. Tổng hợp tất cả những dữ liệu này cho thấy curcumin có khả năng làm chất trung gian trong điều hòa thế oxy hóa khử của tế bào. Khả năng điều chỉnh các hoạt động của các yếu tố tăng trưởng và cytokin trong tế bào của curcumin đã được công bố. Thứ nhất, curcumin làm giảm hiệu quả của của yếu tố tăng trưởng biểu bì (Epidermal growth factor – EGF) thông qua việc làm giảm biểu hiện và hoạt tính của các thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì (Epidermal growth factor receptor – EGFR). Thứ hai, curcumin làm giảm hoạt tính của EGFR – 2, một yếu tố tăng trưởng liên quan mật thiết với các bệnh tuyến vú, phổi, thận và tuyến tiền liệt. Thứ ba, curcumin ức chế hoạt tính cùa interleukin (IL)-6 nhờ vào khả năng làm giảm hoạt tính của STAT 3. Thứ tư, curcumin điều chỉnh hoạt động của TNF, yếu tố tăng trưởng của tế bào khối u. Thứ năm, curcumin điều hòa âm hoạt động của IL – 2, yếu tố tăng trưởng của tế bào T. Vì vậy, curcumin có thể tác động đến hoạt động của rất nhiều loại yếu tố tăng trưởng.

Sự tạo mạch là quá trình phân bố mạch của mô, rất quan trọng trong sự tăng trưởng của các khối u rắn. Có vô số phân tử liên quan đến quá trình tạo mạch, bao gồm yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (Vascular endothelial growth factor  - VEGF), COX – 2, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (Fibroblast growth factor – FGF), và TNF. Các chứng cứ chỉ ra rằng curcumin có thể ức chế sự tạo mạch, ức chế hoạt tính của yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu. Tương tự như vậy, curcumin làm giảm hoạt tính của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi, trung gian hình thành mạch máu. Curcumin còn ức chế âm biểu hiện của COX – 2, và ức chế sự biểu hiện và hoạt tính của TNF.

6. THỤ THỂ CỦA CURCUMIN
Thụ thể là các protein trên bề mặt tế bào nơi phân tử có thể gắn vào., dẫn đến những đáp ứng thứ cấp của tế bào. Thụ thể chuyên biệt của curcumin vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, có vô số phân tử curcumin có thể gắn vào đã được xác định. Các phân tử đó là albumin huyết thanh, 5 – LOX, enzym xanthin oxidase, enzym thiredoxin reductase, sắt, COX – 2, IKK, p – glycoprotein, GST, PKA, PKC. cPK, PhK,   protein kinase kích hoạt quá trình tự phosphoryl hóa,  pp60c-src tyrosine kinase, protein kinase phụ thuộc Ca2+ (Ca2+-dependent protein kinase  - CDPK), Ca2+ - ATPase của lới cơ tương,thụ thể có cấu trúc hydrocarbon thơm, cytochrome P450s của chuột, Topo II isomerase, thụ thể của inositol 1,4,5-triphosphat, và  glutathion.

7. CURCUMIN CÓ THỂ CHỮA NHIỀU BỆNH
Các nghiên cứu sâu hơn trong nữa thập niên gần đây cho thấy curcumin có khả năng chống lại nhiều loại bệnh, bệnh ác tính và bệnh lành tính. Tuy nhiên, khả năng của curcumin chưa được kiểm tra một cách có hệ thống qua các thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, dùng giả dược. Các nghiên cứu tiền lâm sàng, nghiên cứu thử nghiệm trên người khỏe và bệnh nhân hoặc các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra tiềm năng của curcumin. Curcumin thể hiện hoạt tính chống lại nhiều bệnh viêm nhiễm, bao gồm viêm tụy, viêm khớp, viêm ruột, viêm ruột kết, viêm dạ dày, dị ứng, và sốt nhờ vào các cơ chế  điều hòa giảm của các chất gây viêm như đã đề cập trước đó. Tác dụng của curcumin chống lại nhiều bệnh tự miễn cũng đã được công bố, bao gồm bệnh cứng da, bệnh vảy nến, bệnh đa xơ cứng, và tiểu đường. Tương tự như vậy, những tác dụng này của curcumin là nhờ vào sự điều hòa các tính hiệu tiền viêm.

Đã từng được cho là khác biệt, đích tác động phân tử của cả việc ngừa và chữa bệnh được xem là tương tự nhau. Có nhiều dòng chứng cứ gợi ý rằng curcumin có tiềm năng chống lại nhiều bệnh ung thư. Đầu tiên, curcumin ức chế sự tăng sinh của nhiều tế bào khối u qua cơ chế điều hòa âm các sản phẩm của các gen chống lại quá trình gây độc tế bào, hoạt hóa gen gây chết tế bào (Caspase - cysteine-aspartic protease), cảm ứng gen ức chế khối u như gen p53. Thứ hai, curcumin cũng đã thể hiện khả năng ứng chế sự xâm lấn của các khối u nhờ cơ chế điều hòa âm của men tiêu hủy cấu trúc nền (Metalloproteinase – MMOs) và các phân tử kết dính trên bề mặt tế bào. Thứ ba, curcumin ức chế sự tạo mạch trong khối u qua cơ chế ức chế các cytokin tạo mạch. Thư tư, tác dụng khác viêm đóng góp vào hoạt tính kháng khối u của curcumin.

Curcumin thể hiện vai trò quan trọng trong bệnh tiểu đường type 2, khi bệnh nhân phát triển sự đề kháng insulin. Cả NF – ĸB và TNF liên quan chặt chẽ đến sự cảm ứng đề kháng insulin. Bởi vì curcumin có thể điều hòa âm hoạt tính của NF – ĸB và giảm biểu hiện và tín hiệu của TNF, cần khai thác đặc điểm này trên các bệnh nhân tiểu đường.

Tác dụng ngăn ngừa nhồi máu cơ tim và những bệnh tim mạch khác của curcumin đã được công bố. Hiệu quả của curcumin trên bệnh tim mạch liên quan đến khả năng ức chế kết tập tiểu cầu, ức chế đáp ứng viêm, làm giảm LDL và làm tăng HDL, ức chế tổng hợp fibrinogen, và ngăn chặn sự oxy hóa của LDL. Tất cả những hoạt tính này đóng góp vào tác dụng của curcumin trên tim mạch. Curcumin còn có thể chữa bệnh Alzheimer nhờ vào khả năng ức chế amyloid cảm ứng viêm.

 Bảng 2: Tác dụng ngừa và trị ung thư của curcumin

Da
Tổn thương ung thư ngoài
Ung thư biểu mô tế bào đáy ở người
Ung thư tế bào hắc tố ở người
Ung thư biểu mô ở người
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
7,12-dimetylbenz[a]anthracen
Azoxymethanol
Benz[a]pyren
12-O-tetradecanoylphorbol-13-acetat
12-O-tetradecanoylphorbol - 13-acetat
12-O-tetradecanoylphorbol-13-acetat
7,12-dimethylbenz[a]anthracen
Vòm họng
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
Metyl-(acetoxymetyl)-nitrosamin
4-Nitroquinolin 1-oxid
7,12-Dimethylbenz[a]anthracen
Thực quản
Ngừa ung thư bởi N-nitrosometylbenzylamin
Thượng vị
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
Benzo[a]pyren
N-metyl-N’-nitro-N-nitrosoguanidin
Ruột
Bệnh polyp ruột
Ung thư ruột kết
Ung thư tuyến ở ruột kết
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
Azoxymethan
1,2-Dimethylhydrazine
Dihydrocrolid
Tuyến vú
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
7,12-Dimetylbenz[a]anthracen
Dietylstilbestrol
Radiation
Gan
U nguyên bào gan ở người
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
Dietylnitrosamin
N-Nitrosodietylamin
Phenobarbital
Tuyến tiền liệt
Ngừa ung thư bởi các tác nhân như
3,2’-dimetyl-4-aminobiphenol (DMAB)
2-amino-1-metylimidazo[4,5-b]pyridine (PhIP)
Máu và tủy xương
Bệnh bạch cầu ở người
Tế bào lympho T
Tế bào tuyến ức chuột
U lympho tế bào B
U lympho tế bào B không Hodgkin
U lympho Burkitt
Bệnh đa u tủy
U lympho tràn dịch
Não
U nguyên bào thần kinh
Ung thư kiểu tế bào Ehrlich
U bào hình sao
Ngực
Ung thư ngực
Ung thư vú
Dạ dày – ruột
Ung thư kiểu vòng nhẫn ở dạ dày
Đầu cổ
Ung thư biểu mô tế bào vảy đầu và cổ
Phổi
Ung thư phổi
Tuyến tụy
Ung thư tuyến tụy
Buồng trứng
Ung thư buồng trứng


8. KẾT LUẬN
Những mô tả trên đây và trong nhiều chương khác trong tài liệu này đã chứng minh rằng curcumin có tiềm năng rất lớn trong chữa nhiều loại bệnh. Tuy nhiên, vẩn có nhiều câu hỏi về curcumin vẫn chưa được trả lời. Đầu tiên, nghiên cứu lâm sàng pha I đã chỉ ra rằng liều 12 g curcumin mỗi ngày trong 3 tháng được dung nạp tốt ở người. Tuy nhiên liều tối ưu của curcumin để chữa một bệnh nhất định vẫn chưa được xác định. Nồng độ thấp của curcumin trong huyết thanh có ích về mặt an toàn dược phẩm, nhưng chứng tỏ rằng curcumin có sinh khả dụng thấp. Thứ hai, không thể so sánh nồng độ của curcumin trong mô với nồng độ trong điều kiện nuôi cấy tế bào. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng, các tác nhân như piperin (một thành phần trong tiêu đen) có thể tăng cường sinh khả dụng của curcumin vì piperin ức chế quá trình glucuronid hóa của curcumin ở gan và ruột. Thứ ba, tác dụng của những thành phần khác của curcumin trong dịch chiết nghệ khi sử dụng riêng lẽ hoặc kết hợp với curcumin vẫn chưa được xác định. Thứ tư, cần xác định tác dụng của các gia vị khác trong ngành dược và đặc điểm sinh học của curcumin. Thứ năm, cần nghiên cứu các chất có cấu trúc tương tự curcumin có sinh khả dụng và hiệu quả cao hơn curcumin. Tuy nhiên, điều này cẩn phải đảm bảo tính an toàn giống như curcumin. Thứ sáu, cần có những nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn và có kiểm soát để xác định tiềm năng của curcumin trong việc ngừa và chữa bệnh. Những nghiên cứu này có thể phát hiện ra nhiều công dụng mới của curcumin. Nhìn chung, tính an toàn sinh học, hiệu quả kinh tế, và hàng nghìn năm trải nghiệm đã chứng minh rằng curcumin là “THE INDIAN SOLID GOLD”

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi HỌC VIỆN NGHIÊN CỨU CLAYTON và VIỆN NGHIÊN CỨU QUỐC GIA. Chúng tôi xin cảm ơn ông Walter Pagel đã xem xét và đánh giá bản thảo.

CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Anh  /  Tiếng Việt
EGF: Epidermal growth factor  /  Yếu tố tăng trưởng biểu bì
EGFR: Epidermal growth factor receptor / Thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì
NF-ĸB: Nuclear factor-ĸB / Yêu tố nhân ĸB
TNF: Tumor necrosis factor / Yếu tố hoại tử khối u
AP-1: Activating protein-1 / Protein hoạt hóa - 1
JNK: C-jun N-terminal kinase
 MMPs: Matrix metalloproteases / Prptein hủy mô
COX-2: Cyclooxygenase – 2
iNOS: Inducible nitric oxide synthase / Cảm ứng enzym tổng hợp nitric oxyd
HDL: High-density lipoprotein /Lipoprotein có tỉ trọng cao
LDL: Low-density lipoprotein
TGF-β1: Transforming growth factor β 1 / Yếu tố chuyển dạng tăng trưởng
IL:Interleukin
STAT: Signal transducers and activators of transcription/ Cảm biến tính hiệu và goạt hóa mphiem6 mã
Proteins
Low molecular weight proteins / Lipoprotein có tỉ trọng thấp
NSAIDs: Nonsteroidal anti-inflammatory drugs / Thuốc kháng viêm không có cấu trúc steroid
Amyloid precursor: Tiền chất của amyloid, một protein bất thường
GST: Gluthathione-S–transferase
LOX: Lipooxygenase
ROS: Reactive oxygen species / Oxy phản ứng, Gốc tự do
VEGF: Vascularendothelial growth factor / Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu
FGF: Fibroblast growth factor / Yếu tó tăng trưởng nguyên bào sợi
IKK: IĸB kinase
PKC
PKA: protein kinase A                                                            

ĐỊA CHỈ:

VINAPHARMA

AN PHÚ Plaza, 117 - 119 Lý Chính Thắng, P. 7, Q. 3, Tp. HCM, Việt Nam

ĐT: 08.7302.2888

Fax: 08.6291.4745

​Email: sales@vinapharma.net

web: www.vinapharma.com